Kanji là gì? Có bao nhiêu chữ Kanji? Nguồn gốc của Hán tự và những bộ thủ thông dụng

Đối với rất nhiều người theo đuổi tiếng Nhật, nỗi ám ảnh lớn nhất khi học ngôn ngữ này chính là “Kanji”, và có lẽ không ít người từng thầm ước rằng “giá mà tiếng Nhật không có Kanji”. Vậy Kanji là gì mà gây sợ hãi đến vậy? Liệu tiếng Nhật không còn Kanji có trở nên dễ dàng hơn?

Kanji là gì? Nguồn gốc của chữ Hán trong tiếng Nhật

Khái niệm của Kanji

Kanji trong tiếng Nhật có nghĩa là Hán tự, tức chữ Hán. Có 3 bảng chữ cái tiếng Nhật, ngoài hai bảng chữ cái Hiragana (平仮名: Bình giả danh, thường gọi là chữ mềm) và Katakana (片仮名: Phiến giả danh, thường gọi là chữ cứng), người Nhật còn sử dụng cả chữ Hán trong tiếng nhật làm ngôn ngữ viết. 

Kanji là gì? Có bao nhiêu chữ Kanji? Nguồn gốc của Hán tự và những bộ thủ thông dụng

Ảnh: tofugu.com

Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng Kanji được sử dụng trong tiếng Nhật không hoàn toàn tương đồng với chữ Hán của người Trung Quốc, mà có sự khác biệt về cách phát âm, cách viết cũng như ý nghĩa của chữ Hán đó.

Xem thêm: 9 chữ Kanji “cool ngầu” về ý nghĩa lẫn hình dáng

Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản như thế nào?

Tiếng Nhật cổ đại vốn không có hệ thống chữ viết riêng cho đến khoảng thế kỷ thứ IV, V khi chữ Hán được du nhập vào đất nước mặt trời mọc theo con đường giao lưu buôn bán với Triều Tiên.

Sau khi tiếp thu chữ Hán, người Nhật đã sử dụng văn tự này để diễn đạt ngôn ngữ của mình, dựa trên đó mà sáng tạo ra Manyogana (萬葉假名: Vạn Diệp Giả Danh), tuy nhiên hệ thống chữ viết này khá phức tạp. Theo thời gian, Manyogana lại được đơn giản hóa thành Hiragana và Katakana. 

hiragana và katakana hình thành trên cơ sở chữ hán của trung quốc

Ảnh: japanese.stackexchange.com

Vì sao người Nhật sử dụng chữ Hán?

Hiện nay, ngôn ngữ viết của tiếng Nhật hiện đại sử dụng cả ba loại văn tự Hiragana, Katakana và Kanji. Đến đây, hẳn bạn sẽ thấy làm lạ, tại sao đã có hai bảng chữ cái riêng là Hiragana và Katakata mà người Nhật vẫn sử dụng Kanji?

Trước nhất, sử dụng Kanji giúp dễ dàng phân biệt các từ ngữ trong câu, làm cho câu văn dễ đọc hơn. Trong câu văn, Hiragana thường được dùng để viết trợ từ, tiếp vĩ ngữ, đuôi động từ, đuôi tính từ; Katakana dùng cho các từ ngoại lai, thuật ngữ khoa học kỹ thuật, tên các loài động thực vật, tên gọi của các quốc gia, các địa điểm nước ngoài; còn Kanji dùng để viết danh từ, gốc động từ, gốc tính từ.

Nếu chỉ mới bắt đầu đến với tiếng Nhật, bạn sẽ cảm thấy câu văn được viết bằng Hiragana dễ đọc hơn. Tuy nhiên, nếu lên đến trình độ trung cấp, bạn sẽ cảm thấy rằng, thật may mắn khi có Kanji trong câu. Với những câu văn dài và phức tạp, sự hiện diện của Kanji giúp bạn biết cách ngắt nghỉ câu và có thể hiểu khát quát nội dung câu văn dựa vào ý nghĩa của chữ Hán.

vì sao người nhật sử dụng chữ hán?

Ảnh: typeproject.com

Ngoài ra, nếu không có Kanji tiếng nhật, bạn sẽ khó lòng phân biệt được những từ có cùng âm đọc nhưng khác ý nghĩa trong tiếng Nhật.

Có bao nhiêu chữ Kanji thường dùng?

Theo thống kê, hiện nay trong tiếng Nhật có khoảng 5.000 chữ Hán, tuy nhiên số lượng Kanji thường xuất hiện chỉ vào khoảng 2.136 chữ được cấu tạo từ những bộ thủ thông dụng. Ở trình độ sơ cấp (N5-N4), bạn cần ghi nhớ 80 đến 170 chữ Hán, số chữ ở trình độ trung cấp (N3-N2) là 300 đến 600, và ở trình độ cao cấp là khoảng 1.000 chữ. 

Những bộ thủ Kanji nhất định phải biết 

Vì sao phải học bộ thủ?

Khó khăn của nhiều bạn khi học Tiếng Nhật là đã vội vàng lao vào học từng chữ Kanji. Với trình độ sơ cấp, các chữ Hán còn đơn giản, ít nét, việc ghi nhớ mặt chữ và ý nghĩa của nó ngay lập tức sẽ không quá khó khăn. Tuy nhiên, khi càng lên cấp độ cao, số lượng Kanji phải học càng nhiều, độ phức tạp trong cách viết của mỗi chữ cũng tăng lên gấp bội, việc cố gắng “nhồi nhét” là sai lầm thường gặp khi học Kanji.

Để việc học Kanji trở nên đơn giản và đạt hiệu quả hơn, lời khuyên là bắt đầu từ các bộ thủ. Bộ thủ (部首) là phần cơ bản cấu tạo nên chữ Hán, mỗi chữ được tạo nên từ một hoặc nhiều bộ thủ ghép lại với nhau. Thông qua bộ thủ, bạn có thể suy đoán ngữ nghĩa và âm đọc của Kanji, phát huy khả năng liên tưởng, nhớ lâu và nhớ sâu từ vựng hơn. Bên cạnh đó, nhờ có bộ thủ mà việc tra cứu chữ Hán cũng dễ dàng hơn. 

bộ thủ kanji

Ảnh: Pinterest

Chẳng hạn, khi thấy Kanji có xuất hiện bộ “thủy” (水,氵) , bạn sẽ đoán được rằng ý nghĩa của chữ này chắc hẳn phải liên quan đến nước (sông, suối, ao, hồ…) hay với Kanji 仙 (tiên), ta thấy có bộ “nhân” (亻) và “sơn” (山) – như vậy ta có thể rút ra “công thức” ghi nhớ cách viết Kanji này là: “Người (亻) sống trên núi (山) cao là tiên (仙)”.

214 bộ thủ Kanji thông dụng

Trong giảng dạy tiếng Nhật, hiện nay về cơ bản có 214 bộ thủ Kanji thông dụng được nhắc đến. Sau đây là 29 bộ thủ cơ bản có từ một đến hai nét: 

Một Nét

1. 一  – Nhất :Số một
2. 〡 – Cổn: Nét sổ
3. 丶 – Chủ:Điểm, chấm
4. 丿 –  Phiệt: Nét sổ xiên qua trái
5. 乙 – Ất: Vị trí thứ 2 trong thiên can
6. 亅- Quyết: Nét sổ có móc

Hai Nét

7. 二 – Nhị: số hai
8. 亠 – Đầu: (không có nghĩa)
9. 人/亻 – Nhân: người
10. 儿 – Nhi: trẻ con
11. 入 – Nhập: vào
12. 八 – Bát: số tám
13. 冂  – Quynh: vùng biên giới xa; hoang địa
14. 冖 – Mịch: trùm khăn lên
15. 冫 – Băng: nước đá
16. 几 – Kỷ: ghế dựa
17. 凵 – Khảm: há miệng
18. 刀/刂- Đao: con dao, cây đao (vũ khí)
19. 力 – Lực => sức mạnh
20. 勹 – Bao: bao bọc
21. 匕 – Chuỷ: cái thìa (cái muỗng)
22. 匚 – Phương: tủ đựng
23. 匸 – Hệ: che đậy, giấu giếm
24. 十 – Thập: số mười
25. 卜 – Bốc: xem bói
26. 卩 – Tiết: đốt tre
27. 厂 – Hán, Xưởng: sườn núi, vách đá
28. 厶 – Khư, tư: riêng tư
29. 又 – Hựu: lại nữa, một lần nữa

Onyomi, kunyomi và cách đọc Hán tự trong tiếng Nhật

Khi du nhập vào Nhật Bản, các chữ Hán cũng được thay đổi đôi chút về cách phát âm để phù hợp với tiếng Nhật. Theo đó, người Nhật có hai cách đọc Kanji là “onyomi” (音読み) và “kunyomi” (訓読み).

Onyomi là cách đọc theo âm Hán Nhật, thường dùng để đọc các từ vay mượn từ Trung Quốc (thường là từ ghép, các câu thành ngữ 4 chữ). Còn kunyomi – đọc theo âm thuần Nhật được áp dụng với những từ gốc Nhật (từ đã có sẵn trong tiếng Nhật, về sau khi tiếp thu Kanji, người Nhật bắt đầu dùng chữ Hán để biểu thị từ đó, nhưng vẫn giữ nguyên cách phát âm ban đầu).

Chẳng hạn chữ “tác – 作”, được đọc là “tsukuru – 作る” khi đóng vai trò là động từ với ý nghĩa “làm ra, tạo ra, chế biến…” nhưng khi đứng trong từ ghép “作品” có nghĩa là tác phẩm, lúc này “作” được đọc là “saku”, cả từ là “sakuhin”.

cách đọc chữ hán theo âm on âm kun

Ảnh: tofugu.com

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cũng có những trường hợp, khi hai chữ Hán đứng cạnh nhau nhưng một chữ đọc theo âm on, một chữ đọc theo âm kun hoặc cả hai đều được đọc theo âm kun. Với những ngoại lệ này, cách để chúng là ghi nhớ là học thuộc từ vựng.

Ngoài ra, mỗi chữ Kanji không chỉ có duy nhật một âm on và một âm kun, mà có thể có nhiều cách phát âm khác nhau. Do đó, đọc theo cách nào còn tùy thuộc vào vị trí và ý nghĩa của từ đó câu văn.

Trong các quyển sách Kanji tiếng Nhật hoặc từ điển, cách đọc onyomi thường được phiên âm bằng Katakana trong khi cách đọc kunyomi được thể hiện bằng Hiragana.

vinhcathr.com.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *